3 Đề ôn tập môn Tiếng Việt Lớp 5
* Học sinh đọc thầm bài: “Hoa xoan” sau đó chọn và khoanh tròn chữ cái trước ý trả lời đúng nhất cho từng câu hỏi dưới đây:
Câu 1: Tại sao ngay trong đoạn mở đầu, tác giả đã khẳng định xoan đã gắn bó với người dân quê hàng ngàn năm nay?
A. Hằng năm cứ đến mùa sương mù, người dân quê lại thấy hoa xoan.
B. Xoan được trồng để lấy gỗ làm nhà, đóng giường, tủ, bàn ghế.
C. Xoan được trồng xung quanh nhà để lấy bóng mát.
Câu 2: Tác giả dùng biện pháp, hình ảnh nào để miêu tả lộc xoan?
A. So sánh lộc xoan với móng gà chíp, phủ một lớp lông tơ trắng mịn.
B. Nhân hóa lộc xoan đáng yêu như móng gà chíp bé xíu xinh xinh.
C. Nhân hóa lộc xoan bé xíu xinh xinh như móng gà chíp.
Bạn đang xem tài liệu "3 Đề ôn tập môn Tiếng Việt Lớp 5", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: 3 Đề ôn tập môn Tiếng Việt Lớp 5

NỘI DUNG ÔN TẬP TIẾNG VIỆT ĐỌC HIỂU ĐỀ: 01 A. Phần đọc thầm và làm bài tập trắc nghiệm: Bài đọc thầm: Hoa xoan Mùa giêng hai. Mù sương càng bớt thì mưa phùn bay càng nhiều. Bụi mưa li ti hàng triệu triệu hạt trắng đục rắc nhè nhẹ. Đất trời ẩm ướt và hơi lạnh. Ấy là lúc xoan bắt đầu chuyển nhựa rùng rùng chuẩn bị cho mùa hoa mới. Người nhà quê trồng xoan thành vườn hoặc dặm ở hàng rào để lấy gỗ làm nhà, đóng giường, tủ, bàn ghế Ngàn đời rồi cây xoan có sức sống diệu kỳ và gần gũi vô cùng với người nhà quê. Khoảng tiết Kinh Chập năm trước, xoan đã trút hết lá, chỉ còn cây gầy guộc, cành khẳng khiu. Âm thầm suốt cuối mùa đông tích nhựa đắng, để đầu xuân thân phận xoan gầy khẳng trào ra các đầu cành những lộc bé xíu xinh xinh như móng gà chíp, phủ một lớp lông tơ trắng mịn. Rồi vắng bặt đi một dạo không để ý, sáng ra mắt nhắm mắt mở, bất chợt nhìn lên đã thấy các hoa xoan tim tím lăn tăn nơi đầu cành. Và lại bất chợt giữa trưa nào đó, ngợp mắt, rợp trời hoa xoan bung ra trắng tím. Cái hương hoa xoan ngan ngát và mùi quả xoan tươi hăng hăng đi theo mãi cuộc đời, không một loại nước hoa sang trọng đắt tiền nào sánh nổi. Nó luôn gợi ta nhớ nhung về tuổi thơ và một miền quê yêu thương. Bây giờ, nhà nhà xây mái bằng bê tông cốt sắt, gỗ xoan không còn chỗ làm cột, làm quá giang, đòn bẩy. Đến cái chạn bát cũng bằng i-nốc, bằng nhựa; gỗ xoan đã ra rìa ngoài cuộc sống người dân quê. Không còn ai làm nhà bằng gỗ xoan. Không còn hoa xoan rụng ngõ đất. Ai người trồng, ai người cần xoan nữa xoan ơi? Theo Sương Nguyệt Minh * Học sinh đọc thầm bài: “Hoa xoan” sau đó chọn và khoanh tròn chữ cái trước ý trả lời đúng nhất cho từng câu hỏi dưới đây: Câu 1: Tại sao ngay trong đoạn mở đầu, tác giả đã khẳng định xoan đã gắn bó với người dân quê hàng ngàn năm nay? A. Hằng năm cứ đến mùa sương mù, người dân quê lại thấy hoa xoan. B. Xoan được trồng để lấy gỗ làm nhà, đóng giường, tủ, bàn ghế. C. Xoan được trồng xung quanh nhà để lấy bóng mát. Câu 2: Tác giả dùng biện pháp, hình ảnh nào để miêu tả lộc xoan? A. So sánh lộc xoan với móng gà chíp, phủ một lớp lông tơ trắng mịn. B. Nhân hóa lộc xoan đáng yêu như móng gà chíp bé xíu xinh xinh. C. Nhân hóa lộc xoan bé xíu xinh xinh như móng gà chíp. Câu 3: Vì sao với tác giả không thể có thứ nước hoa nào sánh với hương xoan? NỘI DUNG ÔN TẬP TIẾNG VIỆT VIẾT I. CHÍNH TẢ: Cha mẹ đọc bài chính tả (Nghe – viết) cho học sinh viết trong thời gian 15 phút: Cây rơm Cây rơm đã cao và tròn nóc.Trên cọc trụ người ta úp một chiếc nồi đất, hoặc ống bơ để nước không theo cọc mà làm ướt từ ruột cây ướt ra. Cây rơm giống như một túp lều không cửa nhưng với tuổi thơ có thể mở cửa ở bất cứ nơi nào. Lúc chơi trò chạy đuổi, những chú bé tinh ranh có thể chui vào đống rơm, lấy rơm che cho mình như đóng cánh cửa lại . Cây rơm như một cây nấm khổng lồ không chân .Cây rơm đứng từ mùa gặt này đến mùa gặt tiếp sau. Phạm Đức II. TẬP LÀM VĂN (Thời gian làm bài 35 phút – Giáo viên chép đề trên bảng lớp) Đề bài: Mỗi một con người đều có một vẻ đẹp riêng. Quanh em có nhiều người thân rất đáng yêu, và đáng kính trọng. Em hãy tả một người thân của em. (Ông, bà, cha, mẹ,) * Ghi chú: Yêu cầu học sinh làm bài Tiếng Việt (viết) trên vở. --- Hết --- C. Người khách muốn cho tiền cậu bé nghèo. D. Ông tin cậu bé sẽ làm như cậu nói, quay lại trả tiền thừa. Câu 3: Rô – be không tự mang trả tiền thừa cho khách vì: A. Rô – be bị xe tông gãy chân, đang nằm ở nhà. B. Rô – be bị bệnh đang nằm ở nhà. C. Rô – be bị tai nạn, đang nằm ở bệnh viện. D. Rô – be không thể mang trả ông khách được. Câu 4: Việc Rô – be trả lại tiền thừa cho khách đáng quý ở điểm: A. Tuy nghèo nhưng Rô – be không tham lam. B. Dù gặp tai nạn nhưng Rô-be vẫn tìm cách thực hiện lời hứa. C. Rô-be muốn kiếm thật nhiều tiền để phụ giúp gia đình. D. Rô-be đã làm cho vị khách hết lo lắng. Câu 5: Em hãy chọn một tên cho Rô – be phù hợp với đặc điểm, tính cách của cậu: A. Cậu bé nghèo. B. Cậu bé đáng thương. C. Cậu bé bán hàng rong. D. Cậu bé nghèo trung thực. Câu 6: “thoáng một nổi buồn”, Từ trái nghĩa với từ “buồn” là: A. Vui vẻ B. Buồn rầu C. Bất hạnh D. May mắn Câu 7: Câu “Tôi đã thấy một tâm hồn đẹp trong một cậu bé nghèo” từ: A. Tôi là danh từ làm chủ ngữ trong câu kể Ai thế nào? B. Tôi là đại từ làm chủ ngữ trong câu kể Ai thế nào? C. Tôi là đại từ làm chủ ngữ trong câu kể Ai làm gì? D. Tôi là danh từ làm chủ ngữ trong câu kể Ai làm gì? Câu 8: Đặt một câu với cặp quan hệ từ: Tuy.. nhưng.. .. . Câu 9: Từ “cháu” trong câu “Ông cứ đưa cho cháu một đồng tiền vàng” thuộc từ loại: A. Đại từ B. Danh từ C. Tính từ D. Động từ Câu 10: “Anh cháu không thể mang trả ông được vì anh ấy bị xe tông vào, gãy chân, đang phải nằm ở nhà”. Quan hệ từ “vì” trong câu thể hiện mối quan hệ: NỘI DUNG ÔN TẬP TIẾNG VIỆT ĐỌC HIỂU ĐỀ: 03 A.Phần đọc thầm và làm bài tập trắc nghiệm Bài đọc thầm : Trò chơi đom đóm Thuở bé, chúng tôi thú nhất là trò bắt đom đóm! Lũ trẻ chúng tôi cứ chờ trời sẫm tối là dùng vợt làm bằng vải màn, ra bờ ao, bụi hóp đón đường bay của lũ đom đóm vợt lấy vợt để; "chiến tích" sau mỗi lần vợt là hàng chục con đom đóm lớn nhỏ, mỗi buổi tối như thế có thể bắt hàng trăm con. Việc bắt đom đóm hoàn tất, trò chơi mới bắt đầu; bọn trẻ nít nhà quê đâu có trò gì khác hơn là thú chơi giản dị như thế! Đầu tiên, chúng tôi bắt đom đóm cho vào chai, đeo lủng lẳng vào cửa lớp khi học tối. Bọn con gái bị đẩy đi trước nhìn thấy quầng sáng nhấp nháy tưởng có ma, kêu ré lên, chạy thục mạng. Làm đèn chơi chán chê, chúng tôi lại bỏ đom đóm vào vỏ trứng gà. Nhưng trò này kì công hơn: phải lấy vỏ lụa bên trong quả trứng mới cho đom đóm phát sáng được. Đầu tiên, nhúng trứng thật nhanh vào nước sôi, sau đó tách lớp vỏ bên ngoài, rồi khoét một lỗ nhỏ để lòng trắng, lòng đỏ chảy ra. Thế là được cái túi kì diệu! Bỏ lũ đom đóm vào trong, trám miệng túi lại đem " thả" vào vườn nhãn của các cụ phụ lão, cái túi bằng vỏ trứng kia cứ nương theo gió mà bay chập chờn chẳng khác gì ma trơi khiến mấy tên trộm nhát gan chạy thục mạng. Tuổi thơ qua đi, những trò nghịch ngợm hồn nhiên cũng qua đi. Tôi vào bộ đội, ra canh giữ Trường Sa thân yêu, một lần nghe bài hát "Đom đóm", lòng trào lên nỗi nhớ nhà da diết, cứ ao ước trở lại tuổi ấu thơ... Học sinh đọc thầm bài : “ Trò chơi đom đóm ” sau đó chọn và khoanh tròn chữ cái trước ý trả lời đúng nhất cho từng câu hỏi dưới đây : Câu 1: Bài văn trên kể về chuyện gì ? A. Dùng đom đóm làm đèn B. Giúp các cụ phụ lão canh vườn nhãn C. Trò chơi đom đóm của tuổi nhỏ ở miền quê. Câu 2: Điều gì khiến anh bộ đội Trường Sa nhớ nhà, nhớ tuổi thơ da diết ? A. Anh nghe đài hát bài “ Đom đóm” rất hay. B. Anh đang canh giữ Trường Sa và anh được nghe bài “ Đom đóm”. NỘI DUNG ÔN TẬP TIẾNG VIỆT VIẾT B. Phần Tiếng Việt (viết) I. Chính tả: Cha mẹ đọc bài chính tả (nghe viết) cho học sinh viết trong thời gian 20 phút . Bài viết: Quần đảo Trường Sa Từ lâu Trường Sa là mảnh đất gần gũi với ông cha ta . Đảo Nam Yết và Sơn Ca có giống dừa đá, trái nhỏ nhưng dày cùi, cây lực lưỡng, cao vút.Trên đảo còn có những cây bàng , quả vuông bốn cạnh, to bằng nửa chiếc bi đông, nặng bốn năm lạng, khi chín, vỏ ngả màu da cam. Gốc bàng to, đường kính chừng hai mét, xòa một tán lá rộng. Tán bàng là những cái nón che bóng mát cho những hòn đảo nhiều nắng này. Bàng và dừa đều đã cao tuổi, người lên đảo trồng cây chắc chắn phải từ rất xa xưa. Theo Hà Đình Cẩn II. Tập làm văn: (Thời gian làm bài 35 phút) Đề bài: Hãy tả một người trong gia đình mà em yêu quý nhất . Yêu cầu học sinh viết vào vở. .HẾT
File đính kèm:
3_de_on_tap_mon_tieng_viet_lop_5.doc