Tài liệu Ôn tập kiến thức môn Lịch sử 11 - Chuyên đề: Lịch sử thế giới cận đại (Tiếp theo)

A. CHUẨN KIẾN THỨC, KĨ NĂNG TRONG CHƯƠNG TRÌNH

- Sự xâm lược của chủ nghĩa thức dân phương Tây đối với các nước châu Á. Giải thích nguyên nhân.

- Nhật Bản thế kỉ XIX: nguyên nhân, nội dung nổi bật của Cải cách Minh Trị, ý nghĩa lịch sử.

- Trung Quốc: các sự kiện lịch sử quan trọng của Trung Quốc thời cận đại: Chiến tranh thuốc phiện, phong trào Thái bình Thiên quốc, cải cách Mậu Tuất (1898), Cách mạng Tân Hợi (1911).

- Ấn Độ: các phong trào đấu tranh chống thực dân Anh ở Ấn Độ, sự chuyển biến kinh tế, xã hội và sự ra đời, hoạt động của Đảng Quốc đại.

- Các nước Đông Nam Á: quá trình xâm lược của các nước phương Tây, các phong trào đấu tranh chống xâm lược, những chuyển biến về kinh tế - xã hội, xu hướng mới trong phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á đầu thế kỉ XX.

- Châu Phi, Mĩ Latinh: những nét chung về tình hình của châu lục, khu vực các cuộc đấu tranh tiêu biểu.

I- NHẬT BẢN

doc 50 trang minhvy 06/01/2026 60
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu Ôn tập kiến thức môn Lịch sử 11 - Chuyên đề: Lịch sử thế giới cận đại (Tiếp theo)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Tài liệu Ôn tập kiến thức môn Lịch sử 11 - Chuyên đề: Lịch sử thế giới cận đại (Tiếp theo)

Tài liệu Ôn tập kiến thức môn Lịch sử 11 - Chuyên đề: Lịch sử thế giới cận đại (Tiếp theo)
 LỊCH SỬ THẾ GIỚI CẬN ĐẠI (tiếp theo)
 Chủ đề 1:
 CÁC NƯỚC CHÂU Á, CHÂU PHI VÀ KHU VỰC MĨ LA TINH
 (TỪ THẾ KỈ XIX ĐẾN ĐẦU THẾ KỈ XX)
 A. CHUẨN KIẾN THỨC, KĨ NĂNG TRONG CHƯƠNG TRÌNH
 - Sự xâm lược của chủ nghĩa thức dân phương Tây đối với các nước châu Á. 
Giải thích nguyên nhân.
 - Nhật Bản thế kỉ XIX: nguyên nhân, nội dung nổi bật của Cải cách Minh 
Trị, ý nghĩa lịch sử.
 - Trung Quốc: các sự kiện lịch sử quan trọng của Trung Quốc thời cận đại: 
Chiến tranh thuốc phiện, phong trào Thái bình Thiên quốc, cải cách Mậu Tuất 
(1898), Cách mạng Tân Hợi (1911).
 - Ấn Độ: các phong trào đấu tranh chống thực dân Anh ở Ấn Độ, sự chuyển 
biến kinh tế, xã hội và sự ra đời, hoạt động của Đảng Quốc đại.
 - Các nước Đông Nam Á: quá trình xâm lược của các nước phương Tây, các 
phong trào đấu tranh chống xâm lược, những chuyển biến về kinh tế - xã hội, xu 
hướng mới trong phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á đầu thế kỉ XX.
 - Châu Phi, Mĩ Latinh: những nét chung về tình hình của châu lục, khu vực 
các cuộc đấu tranh tiêu biểu.
 I- NHẬT BẢN
 1. Nhật Bản từ đầu đến thế kỉ XIX đến trước năm 1868
 - Về kinh tế: Nông nghiệp lạc hậu, tuy nhiên những mầm mống kinh tế tư 
bản chủ nghĩa đã hình thành và phát triển nhanh chóng.
 - Về chính trị: Đến giữa thế kỉ XIX, Nhật Bản vẫn là quốc gia phong kiến. 
Thiên hoàng có vị trí tối cao nhưng quyền hành thực tế thuộc về Tướng quân - 
Sôgun.
 - Về xã hội: Giai cấp tư sản ngày càng trưởng thành và có thế lực về kinh tế, 
song không có quyền lực về chính trị. Mâu thuẫn xã hội gay gắt.
 - Các nước đế quốc, trước tiên là Mĩ đe doạ xâm lược Nhật Bản. Nhật Bản 
đứng trước sự lựa chọn hoặc tiếp tục duy trì chế độ phong kiến hoặc tiến hành 
cải cách duy tân, đưa đất nước phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa.
 - Liên hệ đến tình hình Việt Nam lúc bấy giờ.
 2. Cuộc Duy tân Minh Trị
 1 - Quan sát hình 3. Lược đồ về sự bành trướng của đế quốc Nhật Bản cuối thế 
kỉ XIX - đầu thế kỉ XX, xác định những vùng đất Nhật Bản xâm chiếm và bành 
trướng cuối thể kỉ XIX - đầu thế kỉ XX.
 II- ẤN ĐỘ
 1. Tình hình kinh tế, xã hội Ấn Độ nửa sau thế kỉ XIX
 - Đến giữa thế kỉ XIX, thực dân Anh đã hoàn thành việc xâm lược và đặt 
ách thống trị ở Ấn Độ. Ấn Độ trở thành thuộc địa quan trọng nhất của thực dân 
Anh, phải cung cấp ngày càng nhiều lương thực, nguyên liệu cho chính quốc.
 - Về chính trị, xã hội, Chính phủ Anh cai trị trực tiếp Ấn Độ, thực hiện nhiều 
chính sách để củng cố ách thống trị của mình như: chia để trị, khoét sâu sự cách 
biệt về chủng tộc, tôn giáo và đẳng cấp trong xã hội.
 2. Khởi nghĩa Xipay
 - Nguyên nhân sâu xa: chính sách thống trị hà khắc của thực dân Anh, nhất 
là chính sách "chia để trị", tìm cách khơi sâu sự khác biệt về chủng tộc, tôn giáo 
và đẳng cấp trong xã hội đã dẫn đến mâu thuẫn sâu sắc giữa nhân dân Ấn Độ với 
thực dân Anh.
 - Duyên cớ: Binh lính người Ấn Độ trong quân đội của thức dân Anh bị đối 
xử tàn tệ, bị xúc phạm về tinh thần dân tộc và tín ngưỡng nên đã nổi dậ khởi 
nghĩa.
 - Diễn biến:
 + Ngày 10/5/1857, hàng vạn lính Xipay đã nổi dậy khởi nghĩa vũ trang 
chống thực dân Anh. Cuộc khởi nghĩa đã được sự hưởng ứng của đông đảo nông 
dân, nhanhc hóng lan ra khắp miền Bắc và một phần miền Trung Ấn Độ.
 + Nghĩa quân đã lập được chính quyền, giải phóng được một số thành phố 
lớn. Cuộc khởi nghĩa duy trì được khoảng 2 năm (1857 - 1859) thì bị thực dân 
Anh đàn áp đẫm máu.
 - Ý nghĩa: có ý nghĩa lịch sử to lớn, tiêu biểu cho tinh thần đấu tranh bất 
khuất của nhân dân Ấn Độ chống chủ nghĩa thực dân, giải phóng dân tộc.
 3. Đảng Quốc đại và phong trào dân tộc (1885 - 1908)
 - Từ giữa thế kỉ XIX, phong trào đấu tranh của nông dân, công nhân đã thức 
tỉnh ý thức dân tộc của giai cấp tư sản và tầng lớp trí thức Ấn Độ. Họ bắt đầu 
vươn lên đòi tự do phát triển kinh tế và được tham gia chính quyền, nhưng lại bị 
thực dân Anh kìm hãm.
 3 - Xác định trên lược đồ các vùng ở Trung Quốc bị các nước đế quốc xâm 
chiếm.
 2. Phong trào đấu tranh của nhân dân Trung Quốc từ giữa thế kỉ XIX - 
đầu thế kỉ XX
 - Trước sự xâm lược của các nước đế quốc và thái độ thoả hiệp của triều 
đình Mãn Thanh, nhân dân Trung Quốc đã đứng dậy đấu tranh, tiêu biểu là 
phong trào nông dân Thái Bình Thiên quốc do Hồng Tú Toàn lãnh đạo (1851 - 
1864).
 - Năm 1898, cuộc vận động Duy tân do hai nhà nho yêu nước là Khang Hữu 
Vi và Lương Khải Siêu khởi xướng, được vua Quang Tự ủng hộ, kéo dài hơn 
100 ngày, nhưng cuối cùng bị thất bại vì Từ Hi Thái hậu làm chính biến.
 - Cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX, phong trào nông dân Nghĩa Hoà đoàn nêu 
cao khẩu hiệu chống đế quốc, được nhân dân nhiều nơi hưởng ứng. Khởi nghĩa 
thất bại vì thiếu sự lãnh đạo thống nhất, thiếu vũ khí và bị triều đình phản bộ, bắt 
tay với đế quốc để đàn áp phong trào.
 3. Tôn Trung Sơn và Cách mạng Tân Hợi (1911)
 - Giai cấp tư sản Trung Quốc ra đời vào cuối thế kỉ XIX và đã lớn mạnh rất 
nhiều vào đàu thế kỉ XX. Do bị phong kiến, tư bản nước ngoài kìm hãm, chèn 
ép, giai cấp tư sản trung Quốc đã tập hợp lực lượng và thành lập các tổ chứ riêng 
của mình. Tôn Trung Sơn là đại diện ưu tú và là lãnh tụ của phong trào cách 
mạng theo khuynh hướng dân chủ tư sản.
 - Tháng 8/1905, Tôn Trung Sơn cùng với các đồng chí của ông đã thành lập 
Trung Quốc Đồng minh hội - chính đảng của giai cấp tư sản của Trung Quốc. 
Tham gia tổ chức này có trí thức tư sản, tiểu tư sản, địa chủ, thân sĩ bất bình với 
nhà Thanh, cùng một số ít đại biểu công nông.
 Cương lĩnh chính trị của tổ chức này dựa trên học thuyết Tam dân của tôn 
Trung Sơn (dân tộc độc lập, dân quyền tự do và dân sinh hạnh phúc). Mục đích 
của Hội là "đánh đổ Mãn Thanh, khôi phục Trung Hoa, thành lập dân quốc".
 Dưới sự lãnh đạo của Đồng minh hội, phong trào cách mạng Trung Quốc 
phát triển theo con đường dân chủ tư sản. Tôn Trung Sơn và nhiều nhà cách 
mạng khác đã tích cực chuẩn bị mọi mặt cho cuộc khởi nghĩa vũ trang.
 - Ngày 9/5/1911, chính quyền Mãn Thanh ra sắc lệnh "Quốc hữu hoá đường 
sắt", thực chất là trao quyền kinh doanh đường sắt cho các nước đế quốc, bán rử 
quyền lợi dân tộc. Sự kiện này đã châm ngòi cho Cách mạng Tân Hợi.
 Ngày 10/10/1911, cách mạng Tân Hợi bùng nổ. Quân khởi nghĩa thắng lớn ở 
Vũ Xương, sau đó khởi nghĩa lan ra tất cả các tỉnh miền Nam và miền Trung của 
 5 - Chính sách cai trị của bọn thức dân càng làm cho mâu thuẫn dân tộc ở các 
nước Đông Nam Á thêm gay gắt, hàng loạt phong trào đấu tranh nổ ra.
 + Ở Inđônêxia, từ cuối thế kỉ XIX, nhiều tổ chức yêu nước của trí thức tư sản 
tiến bộ ra đời. Năm 1905, các tổ chức công đoàn thành lập và bắt đầu quá trình 
truyền bá chú nghĩa Mác, chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng Cộng sản (1920).
 + Ở Philippin, cuộc cách mạng 1896 - 1898 do giai cấp tư sản lãnh đạo, 
chống thực dân Tây Ban Nha giành thắng lợi, dẫn tới sự thành lập Cộng hoà 
Philippin, nhưng ngay sau đó lại bị Mĩ thôn tính.
 + Ở Campuchia, có cuộc khởi nghĩa do Acha Xoa lãnh đạo nổ ra ở Takeo 
(1863 - 1866), tiếp đó là khởi nghĩa của nhà sư Pucômbô (1866 - 1867) có liên 
kết với nhân dân Việt Nam, gây cho Pháp nhiều khó khăn.
 + Ở Lào, năm 1901, Phacađuốc lãnh đạo nhân dân Xavannakhét tiến hành 
cuộc đấu tranh vũ trang. Cùng năm đó, cuộc khởi nghĩa ở cao nguyên Bôlôven 
bùng nổ, lan sang cả Việt Nam, gây cho thực dân Pháp nhiều khó khăn trong 
quá trình cai trị, đến tận năm 1937 mới bị dập tắt.
 + Ở Mã Lai và Miến Điện, phong trào đấu tranh của nhân dân chống thực 
dân Anh cũng diễn ra quyết liệt, làm chậm quá trình khai thác, bốc lột của thực 
dân.
 + Ở Việt Nam, sau khi triều đình Huế đầu hàng, phong trào Cần Vương bùng 
nổ và quy tụ thành nhiều cuộc khởi nghĩ lớn (1885 - 1896). Phong trào nông dân 
Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo, kéo dài 30 năm (1884 - 1913) cũng gây 
nhiều khó khăn cho thực dân Pháp...
 + Ở Xiêm, vào giữa thế kỉ XIX, nước này cũng đứng trước sự đe doạ xâm 
chiếm của các nước phương Tây, nhất là Anh và Pháp.
 Từ thời vua Rama IV (1851 - 1868), đặc biệt là vua Rama V (từ năm 1868 
đến năm 1910) đã thực hiện một loại cải cách tiến bộ về kinh tế, chính trị, xã hội 
theo khuôn mẫu các nước phương Tây, tạo cho nước Xiêm một bộ mặt mới, 
phát triển theo hướng tư bản chủ nghĩa. Nhờ vậy Xiêm không bị biến thành 
thuộc địa như các nước trong khu vực mà vẫn giữ được độc lập, mặc dù bị lệ 
thuộc nhiều vào Anh và Pháp về kinh tế, chính trị.
 - Quan sát hình 10. Hôxê Ridan và hình 11. Bôniphaxiô - SGK, tìm hiểu về 
hai nhân vật này.
 - Lập niên biểu về các cuộc đấu tranh tieu biểu của nhân dân Đông Nam Á 
cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX.
 V- CHÂU PHI VÀ KHU VỰC MĨ LATINH (Thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX)
 7 Chủ đề 2
 Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918)
 - Mâu thuẫn giữa các nước đế quốc và sự hình thành hai khối quân sự đối 
địch ở Châu Âu.
 - Hai giai đoạn chính của chiến tranh, những diễn biến chính của chiến sự.
 - Hậu quả của chiến tranh thế giới thứ nhất.
 1. Nguyên nhân của chiến tranh
 - Vào cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX, sự phát triển không đều giữa các 
nước tư bản về kinh tế và chính trị đã làm thay đổi sâu sắc so sánh lực lượng 
giữa các nước đế quốc.
 Mâu thuẫn về vấn đề thuộc địa đã dẫn tới các cuộc chiến tranh đế quốc đầu 
tiên: chiến tranh Mĩ - Tây Ban Nha (1898); chiến tranh Anh - Bôơ (1899 - 
1902); chiến tranh Nga - Nhật (1904 - 1905).
 - Để chuẩn bị một cuộc chiến tranh lớn nhàm tranh giành thị trường, thuộc 
địa, các nước đế quốc đã thành lập hai khối quân sự đối lập : Khối liên minh 
gồm Đức - áo - Hung (1882) và khối hiệp ước của Anh, Pháp và Nga (1907). Cả 
hai khối đều tích cực chạy đua vũ trang nhằm tranh nhau làm bá chủ thế giới.
 - Quan sát hình 14: Lược đồ hai khối quân sự trong chiến tranh thế giới thứ 
giới thứ nhất - SGK, xác định vị trí và tên các nước trong phe Liên minh và các 
nước trong phe Hiệp ước. 
 2. Diễn biến của chiến tranh
 - Giai đoạn thứ nhất (1914- 1916)
 + Sau sự kiện Thái tử Áo - Hung bị một người Xécbi ám sát (ngày 28 - 6 
1914), từ ngày 1 đến ngày 3 - 8, Đức tuyên chiến với Nga và Pháp. Ngày 4 - 8, 
Anh tuyên chiến với Đức. Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ.
 + Ở giai đoạn này, Đức tập trung lược lượng về phía tây nhằm nhanh chóng 
thôn tính nước Pháp. Do quân Nga tấn công quân Đức ở phía đông, nên nước 
Pháp được cứu nguy. Từ năm 1916, chiến tranh chuyển sang thế cầm cự đối với 
cả hai phe.
 + Chiến tranh bùng nổ, cả hai phe đều lôi kéo thêm nhiều nước tham gia và 
sử dụng nhiều loại vũ khí hiện đại đã giết hại và bị làm thương hàng triệu người.
 - Giai đoạn thứ hai (1917 - 1918)
 9 - Về tư tưởng với các nhà Triết học Ánh sáng thế kỉ XVII - XVIII như: 
Môngtexkiơ, Rútxô, Vônte.
 2. Thành tựu về văn học, nghệ thuật từ đầu thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ 
XX
 - Về văn học: Tiêu biểu là nhà thơ, nhà tiểu thuyết, nhà viết kịch người Pháp 
Víchto Huygô (1802 - 1885) với tác phẩm Những người khốn khổ; Lép Tônxtôi 
(1828 - 1910) nhà văn Nga với tác phẩm Chiến tranh và hoà bình, Anna 
Karênina..., Mác Tuên (1835 - 1910) nhà văn lớn người Mĩ..., Bandắc (Pháp), 
Anđécxen (Đan Mạch), Puskin (Nga), Giắc Lơn đơn (Mĩ), Lỗ Tấn (Trung Quốc, 
Hôxê Ridan (philíppin) Hôxê Mácti (Cuba).
 - Về nghệ thuật: Các lĩnh vực nghệ thuật như kiến trúc, âm nhạc, điêu khắc 
rất phát triển với các hoạ sĩ nổi tiếng như: Van Gốc (Hà Lan), Phugita (Nhật 
Bản), Picátxô (Tây Ban Nha), Lêvitan (Nga); nhạc sĩ như Traicốpxki.
 - Quan sát hình 17, 18, 19 - SGK để biết được một số tác giả tiêu biểu về văn 
học, nghệ thuật thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX.
 3. Trào lưu tư tưởng tiến bộ và sự ra đời, phát triển của chủ nghĩa xã 
hội khoa học từ giữa thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX
 - Sự ra đời của chủ nghĩa xã hội không tưởng:
 + Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản giữa thế kỉ XIX gây ra nhiều đau khổ 
cho nhân dân lao động. Trong hoàn cảnh ấy, một số nhà tư tưởng tiến bộ đương 
thời đã nghĩ đến việc xây dựng một xã hội mới, không có tư hữu, không có bóc 
lột, nhân dân làm chủ các phương tiện sản xuất của mình.
 + Nổi tiếng nhất là các nhà văn tư tưởng như: Xanh Ximông (1760 - 1825), 
Phuriê (1772 - 1837) ở Pháp và Ôoen (1771 - 1858) ở Anh.
 + Đó là những nhà xã hội không tưởng, vì tư tưởng của họ không thể thực 
hiện được trong điều kiện chủ nghĩa tư bản vẫn được duy trì và phát triển.
 - Triết học Đức: Hêghen và Phoiơbách là những nhà triết học nổi tiếng của 
Đức.
 Hêghen là nhà triết học duy tâm khách quan.
 Phoiơbách tuy đứng trên lập trường chủ nghĩa duy vật, nhưng siêu hình khi 
xem những thời kỉ lịch sử xã hội loài người không hề phát triển mà chỉ có khác 
nhau do sự thay đổi về tôn giáo.
 - Chủ nghĩa xã hội khoa học:
 + Cùng với sự hình thành và phát triển của giai cấp vô sản, phong trào công 
nhân, học thuyết chú nghĩa xã hội khoa học ra đời, do Mác và Ăngghen sáng 
 11

File đính kèm:

  • doctai_lieu_on_tap_kien_thuc_mon_lich_su_11_chuyen_de_lich_su_t.doc